BÀN THÊM VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG BỐI CẢNH SỬA ĐỔI BỘ LUẬT HÌNH SỰ
Lượt xem: 135
Bộ luật Hình sự là một trong những đạo luật quan trọng của hệ thống pháp luật, trực tiếp xác định hành vi nào là tội phạm, trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những trường hợp mà trách nhiệm hình sự không được đặt ra. Vì vậy, bên cạnh việc quy định tội phạm và hình phạt, việc xác định chính xác phạm vi những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bảo đảm nguyên tắc xử lý đúng người, đúng hành vi và đúng bản chất pháp lý của sự việc.

Hiện nay, vấn đề này càng có ý nghĩa thời sự khi Bộ Công an là cơ quan chủ trì soạn thảo dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi). Ngày 20/8/2026, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công an đã trình Quốc hội khóa XVI dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi). Một trong những nội dung được cơ quan soạn thảo xác định là mở rộng phạm vi loại trừ trách nhiệm hình sự , gắn với yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và thực hiện một số nhiệm vụ đặc thù. Ngày 23/8/2026, Quốc hội đã tiến hành thảo luận tại hội trường về dự án Bộ luật này. Dự thảo gồm 3 phần, 25 chương, 415 điều, trong đó sửa đổi 307 điều, bổ sung 14 điều mới và bỏ 8 điều so với Bộ luật hiện hành.

Trong bối cảnh Bộ luật Hình sự đang được xem xét sửa đổi một cách tương đối toàn diện, bên cạnh việc nghiên cứu mở rộng phạm vi các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, cá nhân thiết nghĩ cũng cần xem xét một vấn đề liên quan đến chế định những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự: các trường hợp hiện đang được quy định tại Chương IV Bộ luật Hình sự năm 2015 có thực sự đồng nhất về bản chất pháp lý và đều nên tiếp tục được đặt trong Chương “Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự” hay không?

1. Khái quát các trường hợp được quy định tại Chương IV Bộ luật Hình sự năm 2015

Theo nguyên tắc chung của pháp luật hình sự Việt Nam, trách nhiệm hình sự chỉ được đặt ra khi hành vi của một người thỏa mãn các dấu hiệu của một tội phạm do Bộ luật Hình sự quy định. Nếu hành vi thiếu một trong những dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm thì không thể xác định người thực hiện đã phạm tội và đương nhiên không có cơ sở buộc họ chịu trách nhiệm hình sự.

Chương IV Bộ luật Hình sự năm 2015 hiện quy định 07 trường hợp, từ Điều 20 đến Điều 26, gồm: sự kiện bất ngờ; tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự; phòng vệ chính đáng; tình thế cấp thiết; gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội; rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ; thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên.

Sự kiện bất ngờ được Điều 20 Bộ luật Hình sự quy định đối với trường hợp người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả đó. Yếu tố có ý nghĩa quyết định ở đây là người thực hiện không có lỗi đối với hậu quả xảy ra. Khi không có lỗi thì hành vi không đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm và trách nhiệm hình sự không phát sinh.

Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự theo Điều 21 là trường hợp người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi. Người ở trong tình trạng này không đáp ứng điều kiện về chủ thể của tội phạm , do đó hành vi cũng không đủ các yếu tố cấu thành tội phạm.

Phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả cần thiết đối với người đang có hành vi xâm phạm nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc chính người phòng vệ. Mặc dù hành vi chống trả có thể gây thiệt hại nhưng do nhằm ngăn chặn, đẩy lùi một hành vi xâm phạm đang xảy ra và phù hợp với yêu cầu bảo vệ lợi ích hợp pháp nên pháp luật xác định phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm .

Tình thế cấp thiết là trường hợp không còn cách nào khác để tránh một thiệt hại đang đe dọa lợi ích được pháp luật bảo vệ ngoài việc gây ra một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Ở đây, chủ thể có ý thức lựa chọn hành vi gây thiệt hại nhưng sự lựa chọn nhằm bảo vệ một lợi ích lớn hơn nên được pháp luật thừa nhận và hành vi không bị coi là tội phạm.

Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội được pháp luật thừa nhận khi việc sử dụng vũ lực là cần thiết và không còn cách nào khác để thực hiện việc bắt giữ. Việc gây thiệt hại trong trường hợp này nhằm mục đích thực thi pháp luật, với điều kiện mức độ sử dụng vũ lực phù hợp với yêu cầu bắt giữ hoặc ngăn chặn người phạm tội tiếp tục gây nguy hiểm.

Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ không bị coi là tội phạm khi người thực hiện đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm và áp dụng đầy đủ các biện pháp phòng ngừa mà thiệt hại vẫn xảy ra. Cơ sở của việc loại trừ trách nhiệm hình sự ở đây là chủ thể đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thận trọng cần thiết nhưng rủi ro khách quan vẫn phát sinh.

Cuối cùng, đối với thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên , người thực hiện mệnh lệnh trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành. Trách nhiệm khi đó về nguyên tắc được đặt ra đối với người ra mệnh lệnh, trừ những trường hợp đặc biệt mà Bộ luật Hình sự có quy định khác.

Nhìn tổng thể, mặc dù cả 07 trường hợp đều được bố trí trong Chương IV với tên gọi “Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự”, nhưng cách quy định của Bộ luật cũng đã cho thấy sự khác biệt. Đối với phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội và rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ, Bộ luật sử dụng cách diễn đạt “không phải là tội phạm” ; trong khi đối với sự kiện bất ngờ, tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự và thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên lại sử dụng cách diễn đạt “không phải chịu trách nhiệm hình sự” .

Sự khác nhau đó đặt ra vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về bản chất pháp lý của từng trường hợp.

Picture 2

Buổi sinh hoạt chuyên đề hình sự tại VKSND khu vực 5 – Thanh Hóa

2. Sự kiện bất ngờ và tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự có thực sự là những trường hợp “loại trừ trách nhiệm hình sự”?

Có thể nhận thấy giữa các trường hợp đang được quy định tại Chương IV tồn tại sự khác biệt đáng kể.

Đối với phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội và rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ, về mặt khách quan đều có hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Chủ thể nhận thức được hành vi của mình và chủ động lựa chọn thực hiện hành vi đó. Tuy nhiên, sự lựa chọn của họ phù hợp với yêu cầu của xã hội, nhằm bảo vệ một lợi ích hợp pháp, thực thi pháp luật hoặc phục vụ hoạt động mà Nhà nước khuyến khích. Do đó, hành vi không mang tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và được pháp luật xác định “không phải là tội phạm”.

Trong khi đó, sự kiện bất ngờ có bản chất khác. Theo Điều 20 Bộ luật Hình sự, người thực hiện hành vi không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả. Điều đó có nghĩa họ không có lỗi đối với hậu quả nguy hại xảy ra.

Theo lý luận chung về cấu thành tội phạm, lỗi thuộc mặt chủ quan của tội phạm. Khi một người hoàn toàn không có lỗi thì hành vi của họ ngay từ đầu đã không đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm. Nếu không cấu thành tội phạm thì trách nhiệm hình sự không phát sinh. Vì vậy, về logic pháp lý, đây không phải trường hợp đã có trách nhiệm hình sự rồi sau đó trách nhiệm ấy được “loại trừ”, mà là trường hợp không có căn cứ làm phát sinh trách nhiệm hình sự ngay từ đầu .

Tương tự, đối với tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự , vấn đề không nằm ở việc pháp luật cho phép một người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong một hoàn cảnh nhất định. Người thực hiện hành vi không phải chịu trách nhiệm hình sự bởi tại thời điểm thực hiện hành vi, do mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác, họ mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi.

Năng lực trách nhiệm hình sự là điều kiện bắt buộc để một người có thể trở thành chủ thể của tội phạm. Người không có năng lực trách nhiệm hình sự không thỏa mãn dấu hiệu về chủ thể. Do đó, cũng giống như trường hợp không có lỗi, cấu thành tội phạm đã không đầy đủ ngay từ đầu và không có cơ sở làm phát sinh trách nhiệm hình sự.

Nói cách khác, có thể phân biệt thành hai nhóm về bản chất.

Nhóm thứ nhất là những trường hợp hành vi gây thiệt hại nhưng được pháp luật thừa nhận vì phù hợp với lợi ích xã hội hoặc được thực hiện trong một hoàn cảnh đặc biệt do pháp luật quy định , điển hình như phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, gây thiệt hại khi bắt giữ người phạm tội.

Nhóm thứ hai gồm sự kiện bất ngờ và tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự , trong đó ngay bản thân cấu thành tội phạm đã thiếu dấu hiệu bắt buộc: sự kiện bất ngờ thiếu lỗi ; tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự thiếu điều kiện về chủ thể của tội phạm .

Nếu trách nhiệm hình sự chưa từng phát sinh thì việc sử dụng khái niệm “loại trừ trách nhiệm hình sự” đối với hai trường hợp này về mặt lý luận còn có điểm cần tiếp tục trao đổi.

3. Kiến nghị trong quá trình sửa đổi Bộ luật Hình sự

Việc Quốc hội đang xem xét dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi) là thời điểm phù hợp để không chỉ nghiên cứu bổ sung những trường hợp mới mà còn rà soát lại tính hợp lý trong kết cấu và vị trí của các chế định hiện hành.

Theo thông tin được Bộ Công an công bố khi trình dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi), một trong những định hướng sửa đổi lần này là mở rộng phạm vi loại trừ trách nhiệm hình sự . Điều đó cho thấy chế định này đang được đặt ra như một nội dung cần hoàn thiện trong quá trình sửa đổi Bộ luật.

Từ góc độ đó, tôi đề xuất tiếp tục nghiên cứu hai vấn đề sau:

Thứ nhất, xem xét chuyển chế định sự kiện bất ngờ về Chương quy định về tội phạm

Sự kiện bất ngờ có quan hệ trực tiếp với chế định lỗi. Bản chất của việc người gây hậu quả không phải chịu trách nhiệm hình sự là vì họ không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả, tức là không có lỗi .

Do đó, thay vì tiếp tục quy định Điều 20 trong Chương “Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự”, có thể nghiên cứu bố trí chế định này trong Chương III về tội phạm, ngay sau quy định về vô ý phạm tội tại Điều 11 .

Cách bố trí như vậy có thể tạo ra sự liên hệ trực tiếp giữa hai trường hợp rất dễ nhầm lẫn trong thực tiễn.

Đối với vô ý do cẩu thả, người phạm tội không thấy trước hậu quả nhưng phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả.

Trong sự kiện bất ngờ, người thực hiện cũng không thấy trước hậu quả nhưng họ không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả đó.

Đặt hai chế định gần nhau sẽ giúp làm rõ hơn ranh giới giữa không có lỗi và lỗi vô ý , đồng thời phù hợp hơn với bản chất pháp lý của sự kiện bất ngờ.

Thứ hai, xem xét chuyển tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự về nhóm quy định liên quan đến chủ thể của tội phạm

Đối với Điều 21 Bộ luật Hình sự, nguyên nhân người thực hiện hành vi không phải chịu trách nhiệm hình sự là vì họ không có năng lực nhận thức hoặc điều khiển hành vi tại thời điểm thực hiện hành vi do tình trạng bệnh lý.

Do đó, chế định này có mối liên hệ chặt chẽ với các điều kiện của chủ thể tội phạm , hơn là với những trường hợp hành vi gây thiệt hại được pháp luật cho phép.

Có thể nghiên cứu chuyển Điều 21 về Chương III và bố trí sau Điều 12 về tuổi chịu trách nhiệm hình sự . Khi đó, các điều kiện cơ bản để một cá nhân trở thành chủ thể của tội phạm sẽ được thể hiện rõ hơn: một mặt phải đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; mặt khác phải có năng lực trách nhiệm hình sự.

Việc thay đổi vị trí của Điều 20 và Điều 21 theo hướng trên không làm thay đổi chính sách xử lý hình sự đối với người thực hiện hành vi, cũng không làm thay đổi hậu quả pháp lý của các trường hợp này. Ý nghĩa chủ yếu nằm ở kỹ thuật lập pháp và tính logic của hệ thống , qua đó phản ánh chính xác hơn căn cứ vì sao một người không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Mặt khác, trong bối cảnh dự thảo Bộ luật Hình sự đang đặt vấn đề mở rộng phạm vi loại trừ trách nhiệm hình sự, việc xác định rõ thế nào thực sự là một trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự càng trở nên cần thiết. Chỉ khi xác định được nội hàm và bản chất của chế định thì việc bổ sung hoặc mở rộng các trường hợp mới mới bảo đảm tính thống nhất về lý luận và kỹ thuật lập pháp.

Kết luận

Chế định về những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định ranh giới giữa tội phạm và hành vi không phải là tội phạm, đồng thời bảo đảm không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người mà pháp luật không đặt ra trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, việc cùng bố trí 07 trường hợp tại Chương IV Bộ luật Hình sự năm 2015 không đồng nghĩa với việc tất cả các trường hợp này hoàn toàn giống nhau về bản chất.

Đối với phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội và một số trường hợp khác, chủ thể thực hiện hành vi gây thiệt hại nhưng hành vi được pháp luật thừa nhận do phù hợp với lợi ích xã hội hoặc được thực hiện trong những điều kiện đặc biệt.

Ngược lại, đối với sự kiện bất ngờ, người thực hiện không có lỗi ; đối với tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự, người thực hiện không đáp ứng điều kiện về chủ thể của tội phạm . Trong cả hai trường hợp, cấu thành tội phạm không đầy đủ và trách nhiệm hình sự về bản chất chưa phát sinh.

Từ đó, cá nhân đề xuất tiếp tục nghiên cứu vấn đề chuyển sự kiện bất ngờ tại Điều 20 về gần chế định lỗi và chuyển tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự tại Điều 21 về gần các quy định về điều kiện của chủ thể tội phạm để hoàn thiện Bộ luật hình sự, nhằm bảo đảm kết cấu của Bộ luật vừa chính xác về bản chất pháp lý, vừa thống nhất và thuận lợi hơn cho nhận thức, giải thích và áp dụng trong thực tiễn./.

Nguyễn Hữu Tuấn – Tổ hội Luật gia VKSND khu vực 5
Từ khóa
Thăm dò ý kiến
Bạn có hài lòng về các thông tin được cung cấp trên Cổng thông tin điện tử Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa hay không?
  • Bình chọn Xem kết quả
    Thống kê truy cập
    • Đang online: 1
    • Hôm nay: 1
    • Trong tuần: 1
    • Tất cả: 1