Khó khăn, vướng mắc trong việc xác định trách nhiệm hình sự đối với bị can bị rối loạn tâm thần do di chứng sử dụng rượu, bia hoặc chất kích thích khác

Trong thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự, việc xác định trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng rối loạn tâm thần do di chứng sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác đang đặt ra nhiều khó khăn, vướng mắc, xuất phát từ cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất các quy định của Bộ luật Hình sự.

Ảnh: Đồng chí Lê Xuân Huy, Viện trưởng VKSND khu vực 4 - Thanh Hóa công tố và kiểm sát xét xử vụ án hình sự tại phiên tòa

Điều 13 BLHS quy định: “Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự”. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng, còn tồn tại cách hiểu khác nhau về phạm vi điều chỉnh của quy định này. Cụ thể, có quan điểm cho rằng chỉ trong trường hợp tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội trực tiếp sử dụng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác dẫn đến mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Ngược lại, cũng có ý kiến cho rằng chỉ cần xác định người thực hiện hành vi phạm tội bị mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi do sử dụng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác (di chứng do sử dụng rượu, bia, chất kích thích...vv) thì vẫn thuộc trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 13 Bộ luật Hình sự, không phụ thuộc vào việc nguyên nhân mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi là do sử dụng rượu, bia và chất kích thích mạnh khác trong thời điểm phạm tội.

Từ đó phát sinh thêm vướng mắc trong thực tiễn tố tụng là: Trong trường hợp tại thời điểm thực hiện hành vi, người phạm tội có sử dụng rượu bia, chất kích thích mạnh là nguyên nhân dẫn đến mất khả năng nhận thức, mất khả năng điều khiển hành vi thì có phải giám định để xác định trong cơ thể họ tại thời điểm đó có nồng độ rượu, chất kích thích dẫn đến mất khả năng nhận thức, mất khả năng điều khiển hành vi hay không?

Bên cạnh đó, thực tiễn còn phát sinh trường hợp bị can không mắc bệnh tâm thần mà chỉ bị mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi trong khi lên cơn động kinh. Đối với trường hợp này, pháp luật hiện hành chưa cho phép áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, dẫn đến việc phải trả tự do cho bị can, gây lo ngại trong dư luận xã hội về nguy cơ tái phạm khi bệnh tái phát. Hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể để giải quyết thống nhất đối với trường hợp nêu trên.

Đáng chú ý, hiện mới chỉ có hướng dẫn đơn ngành đối với trường hợp người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi do sử dụng chất ma túy tại Công văn số 522/C44-P2 ngày 23/02/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an. Đối với các trường hợp sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác, cũng như trường hợp rối loạn tâm thần do di chứng của việc sử dụng các chất này, hiện chưa có hướng dẫn thống nhất của Liên ngành tư pháp trung ương. Điều này dẫn đến việc xác định căn cứ đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra vụ án hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự còn gặp nhiều lúng túng.

Qua nghiên cứu các thông báo rút kinh nghiệm, báo cáo đánh giá công tác đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can không phạm tội, đình chỉ miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 29 Bộ luật Hình sự của VKSND tối cao, cùng các bản án được công bố trên Trang Thông tin điện tử công bố bản án, quyết định của Tòa án – Trang tin điện tử TAND tối cao, có thể nhận thấy hiện nay tồn tại 03 quan điểm khác nhau trong quá trình giải quyết các vụ án có bị can bị rối loạn tâm thần do di chứng sử dụng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác.

Quan điểm thứ nhất, căn cứ Điều 21 Bộ luật Hình sự, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì không phải chịu trách nhiệm hình sự, không phân biệt nguyên nhân gây ra tình trạng đó. Theo tổng hợp, có 13 VKSND tỉnh, thành phố áp dụng theo quan điểm này.

Quan điểm thứ hai cho rằng, trường hợp bị can được cơ quan chuyên môn kết luận mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi do sử dụng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác không phân biệt sử dụng khi nào thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Lý do là mặc dù tại thời điểm phạm tội bị can đang trong tình trạng bệnh lý, nhưng nguyên nhân xuất phát từ việc tự sử dụng rượu, bia, chất kích thích, tức là tự đặt mình vào tình trạng mất khả năng nhận thức. Trên thực tế, có 03 VKSND tỉnh, thành phố truy cứu trách nhiệm hình sự theo quan điểm này.

Quan điểm thứ ba xác định rằng, người thực hiện hành vi phạm tội trong tình trạng rối loạn tâm thần làm mất hoặc hạn chế khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi mà xác định được nguyên nhân trực tiếp là do sử dụng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác tại thời điểm phạm tội gây ảo giác, thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 13 Bộ luật Hình sự năm 2015. Trường hợp này được phân biệt với tình trạng mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi do bệnh lý tâm thần tự phát sinh từ cơ thể người phạm tội.

Từ những cách hiểu và áp dụng pháp luật còn chưa thống nhất nêu trên, tác giả đề xuất Liên ngành Tư pháp Trung ương sớm ban hành văn bản quy định, hướng dẫn áp dụng thống nhất đối với việc xử lý các trường hợp người phạm tội rối loạn tâm thần do di chứng sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác, nhằm bảo đảm việc áp dụng đúng đắn, thống nhất Điều 13 và Điều 21 Bộ luật Hình sự, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay.

Nguyễn Hữu Tuấn