Một số khó khăn, vướng mắc trong xử lý vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội là tài sản chung của vợ chồng hoặc là tài sản đang thế chấp vay ngân hàng và kiến nghị hoàn thiện hướng dẫn áp dụng pháp luật

Trong thực tiễn công tác công tố, kiểm sát điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự liên quan đến việc xử lý vật chứng là công cụ, phương phương tiện phạm tội là tài sản chung của vợ chồng hoặc là tài sản đang thế chấp vay ngân hàng còn phát sinh nhiều cách hiểu, áp dụng khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng. Thực tiễn này đặt ra yêu cầu cần có nhận thức thống nhất nhằm đảm bảo áp dụng đúng quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự.

Nội dung vụ án

Hồi 23 giờ 30, ngày 01/12/2024, tổ tuần tra Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh bắt quả tang Nguyễn Văn A (sinh năm 1979) điều khiển xe ô tô BKS 36A- 198.XX sử dụng dụng cụ chích điện bắt trộm chó. Tang vật thu giữ gồm 25 con chó, tổng trọng lượng 275 kg, định giá tài sản trị giá 30.250.000 đồng.

Cơ quan CSĐT Công an tỉnh đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn A về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra xác định: Chiếc xe ô tô BKS 36A- 198.XX là tài sản chung của vợ chồng Nguyễn Văn A và Lê Thị B. Khi Nguyễn Văn A sử dụng chiếc xe ô tô trên thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì chị Lê Thị B không biết. Ngoài ra, trước thời điểm xảy ra vụ án, Nguyễn Văn A đã thế chấp xe ô tô trên cho Ngân hàng Sacombank vay số tiền 200.000.000 đồng, hiện chưa đến thời hạn tất toán khoản vay.

Trong quá trình giải quyết vụ án đã phát sinh nhiều quan điểm khác nhau về việc xử lý vật chứng là chiếc xe ô tô BKS 36A- 198.XX:

* Quan điểm thứ nhất: Chiếc xe ô tô biển kiểm soát 36A- 198.XX là phương tiện phạm tội nên cần định giá chiếc xe ô tô trên để tịch thu 50% giá trị sau khi hóa giá chiếc xe ô tô nộp ngân sách nhà nước và trả lại cho chị Lê Thị B 50% giá trị. Quan điểm này cho rằng chiếc xe ô tô BKS 36A - 198.XX là tài sản chung của vợ chồng Nguyễn Văn A và Lê Thị B. Khi Nguyễn Văn A sử dụng chiếc xe ô tô trên thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì Lê Thị B không biết nên không có lỗi. Do đó, căn cứ khoản 2, Điều 47 Bộ luật Hình sự, việc trả lại cho chị Lê Thị B 50% giá trị sau khi hóa giá chiếc xe là phù hợp với quy định của pháp luật.

* Quan điểm thứ hai: Chiếc xe ô tô BKS 36A- 198.XX là phương tiện phạm tội. Tuy nhiên, trước khi xảy ra vụ án, Nguyễn Văn A đã thế chấp chiếc xe này cho Ngân hàng Sacombank để vay 200.000.000 đồng. Đối với hợp đồng thế chấp tài sản để vay vốn, Ngân hàng chỉ giữ giấy tờ gốc của phương tiện và giao xe cho chủ sở hữu quản lý, sử dụng và nghiêm cấm việc cầm cố, mua bán, hoặc sử dụng phương tiện đang thế chấp vào mục đích bất hợp pháp. Vì vậy, quan điểm này cho răng chiếc xe ô tô BKS 36A - 198.XX là tài sản của Ngân hàng Sacombank. Việc Nguyễn Văn A sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì Ngân hàng không biết và không có lỗi. Do đó, căn cứ khoản 2, Điều 47 Bộ luật Hình sự, cần trả lại xe ô tô BKS 36A- 198.XX cho Ngân hàng Sacombank mới đúng quy định của pháp luật.

Ảnh: Xe ô tô là vật chứng của vụ án.

Quan điểm thứ ba (Tác giả đồng ý với quan điểm này): Theo quan điểm của tác giả, cả hai quan điểm nêu trên đều chưa phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự về xử lý vật chứng.

- Đối với quan điểm thứ nhất: Việc cho rằng căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự để trả lại cho chị Lê Thị B 50% giá trị chiếc xe sau khi hóa giá chiếc xe ô tô BKS 36A- 198.XX là không đúng quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự về xử lý vật chứng. Bởi lẽ, chiếc xe ô tô BKS 36A - 198.XX là tài sản chung của vợ chồng Nguyễn Văn A và chị Lê Thị B trong thời kỳ hôn nhân, là tài sản chung hợp nhất, không phân chia theo phần. Trong trường hợp Lê Thị B có yêu cầu được bồi thường một phần giá trị chiếc xe thì chị có quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung theo quy định của pháp luật dân sự.

- Đối với quan điểm thứ hai: Việc trả lại chiếc xe cho Ngân hàng Sacombank cũng không đúng quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự về xử lý vật chứng. Vì trước khi Nguyễn Văn A sử dụng chiếc xe làm phương tiện phạm tội, chiếc xe này đã được Nguyễn Văn A thế chấp để vay Ngân hàng Sacombank số tiền 200.000.000đ và chưa tất toán xong khoản vay. Trong trường hợp Nguyễn Văn A không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Sacombank theo hợp đồng tín dụng thì Ngân hàng Sacombank có quyền khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của pháp luật.

Do đó, chiếc xe ô tô BKS 36A- 198.XX là phương tiện được sử dụng vào việc phạm tội, nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự thì vật chứng là phương tiện phạm tội phải tịch thu sung vào ngân sách nhà nước, dù đó là tài sản chung của vợ chồng hoặc là tài sản đang thế chấp tại ngân hàng.

Tham khảo thực tiễn xét xử cũng đã có hướng giải quyết tương tự tại Quyết định giám đốc thẩm số 16/2024/HS-GĐT ngày 17/6/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đối với vụ án “Tổ chức cho người khác nhập cảnh Việt Nam trái phép”. Theo đó, hồi 04 giờ 45 phút ngày 06/12/2021, tại địa phận thôn Hợp Nhất, xã Nhân Lý, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, lực lượng chức năng Công an tỉnh Lạng Sơn kiểm tra xe ô tô BKS 90A- 084.24 và phát hiện bắt quả tang lái xe Trần Văn B đang chở 04 người Trung Quốc không có giấy tờ nhập cảnh trái phép vào Việt Nam. Chiếc xe ô tô BKS 90A- 084.24 Trần Văn B sử dụng làm phương tiện phạm tội là tài sản chung của vợ chồng Trần Văn B và Trần Thị Hồng H và đang được thế chấp cho Ngân hàng TPBank vay 440.000.000đ.

Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2022/HS-ST ngày 28/6/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn áp dụng khoản 1 Điều 348; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn B 01 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh Việt Nam trái phép”. Về xử lý vật chứng, tịch thu 50% giá trị sau khi hóa giá của chiếc xe ô tô BKS 90A- 084.24; trả lại cho chị Trần Thị Hồng H 50% giá trị sau khi hóa giá chiếc xe.

Sau khi xét xử sơ thẩm, Ngân hàng TPBank kháng cáo về phần xử lý vật chứng. Tuy nhiên tại Bản án hình sự phúc thẩm số 813/2022/HS-PT ngày 15/11/2022, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TPBank, giữ nguyên quyết định về xử lý vật chứng tại Bản án hình sự sơ thẩm nêu trên.

Ngày 22/11/2023, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 14/2023/KN-HS, kháng nghị Bản án hình sự phúc thẩm số 813/2022/HS-PT ngày 15/11/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về phần xử lý vật chứng đối với chiếc xe ô tô BKS 90A- 084.24; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám  đốc  thẩm,  sửa Bản  án  hình  sự phúc  thẩm  số 813/2022/HS-PT ngày 15/11/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về phần xử lý vật chứng đối với chiếc xe ô tô BKS 90A- 084.24 theo hướng tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 16/2024/HS-GĐT ngày 17/6/2024, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhận định: Chiếc xe ô tô BKS 90A- 084.24 Trần Văn B sử dụng chở 04 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam là phương tiện phạm tội. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự thì vật chứng là phương tiện phạm tội thì phải tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Trong vụ án này, khi xử lý vật chứng, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đã tuyên tịch thu 50% giá trị sau khi hóa giá của chiếc xe ô tô nộp ngân sách nhà nước và trả lại cho chị Trần Thị Hồng H 50% giá trị sau khi hóa giá chiếc xe là áp dụng không đúng quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự về xử lý vật chứng.

Xe ô tô BKS 90A- 084.24 là tài sản chung của Trần Văn B và Trần Thị Hồng H trong thời kỳ hôn nhân, là tài sản chung hợp nhất, không phân chia theo phần. Trong trường hợp Trần Thị Hồng H có yêu cầu được bồi thường một phần giá trị chiếc xe, chị H có quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung. Trước khi Trần Văn B sử dụng chiếc xe làm phương tiện phạm tội, chiếc xe này đã được vợ chồng Trần Văn B thế chấp vay Ngân hàng TPBank 440.000.000đ, tại thời điểm xét xử sơ thẩm chưa tất toán xong. Trong trường hợp Trần Văn B và Trần Thị Hồng H không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng thì Ngân hàng TP Bank có quyền khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của pháp luật. Do đó Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định sửa Bản án hình sự phúc thẩm số 813/2022/HS-PT ngày 15/11/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về phần quyết định xử lý vật chứng: Tịch thu, hóa giá, nộp ngân sách nhà nước 100% giá trị sau khi hóa giá đối với xe ô tô BKS 90A- 084.24.

Như vậy, việc tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với xe ô tô BKS 36A- 198.XX là phù hợp với Quyết định giám đốc thẩm số 16/2024/HS-GĐT ngày 17/6/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nêu trên. Hiện nay Quyết định giám đốc thẩm số 16/2024/HS-GĐT ngày 17/6/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đang được Vụ Giám đốc kiểm tra I Tòa án nhân dân tối cao đề xuất phát triển thành án lệ.

Để bảo đảm áp dụng thống nhất trong thực tiễn giải quyết án hình sự, đề nghị Tòa án nhân dân tối cao sớm nghiên cứu, giải thích hoặc ban hành án lệ đối với tình huống pháp lý nêu trên./.

Lê Minh Huệ Trưởng Phòng 2 Viện KSND tỉnh Thanh Hóa