Nguyễn Văn A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” hay “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”?

Đăng ngày 14 - 04 - 2022
100%

I. NỘI DUNG DIỄN BIẾN VỤ VIỆC

Do có nhu cầu đi lại, ngày 13/6/2021, Nguyễn Văn A, sinh năm 1988, trú tại khu phố 2, phường X, thị xã Y đến nhà chị Lê Thị B ở phường M, thành phố N thuê 01 chiếc xe ô tô tự lái nhãn hiệu Mazda 3 BKS: 3xA - xxx.xx (có hợp đồng thuê xe), thời hạn thuê xe là 01 tháng kể từ ngày 13/6/2021 đến 13/7/2021, với số tiền 21.000.000đ/1 tháng. Khi thuê xe Nguyễn Văn A để lại số tiền đặt cọc là 19.000.000đ

Khoảng 01 tuần sau, do cần tiền để làm ăn và tiêu sài cá nhân nên Nguyễn Văn A đã nảy sinh ý định đem xe ô tô BKS: 3xA - xxx.xx đi cầm cố để lấy tiền. Tuy nhiên, A biết được đăng ký xe ô tô đang mang tên chị B thì sẽ không thể cầm cố được nên đã nảy sinh ý định làm đăng ký giả mang tên mình để mang xe đi cầm cố. A liên lạc với một đối tượng không rõ lai lịch qua mạng Internet thuê làm đăng ký xe ô tô BKS: 3xA - xxx.xx giả mang tên Nguyễn Văn A. Sau khi có được đăng ký xe giả, A đã đem xe ô tô đến hiệu cầm đồ của anh Nguyễn Văn C (sinh năm 1987, trú tại phường X, thị xã Y) cầm cố chiếc xe nêu trên cho anh C để vay số tiền 40.000.000đ với lãi xuất 1.500đ/1.000.000đ/01 ngày, thời hạn cầm cố là 01 tháng kể từ ngày 24/6/2021. Do thời điểm này gia đình C hết mẫu hợp đồng cho cầm cố tài sản nên anh C đã cho A viết giấy vay số tiền 400.000.000đ và để lại đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn A cùng chiếc xe ô tô BKS: 3xA - xxx.xx. Tuy nhiên, về bản chất thì cả hai đều hiểu và thống nhất thỏa thuận đây là hợp đồng cầm cố tài sản.

Đến ngày 13/7/2021, do đã hết hạn hợp đồng thuê xe nên chị Lê Thị B có gọi điện cho A để yêu cầu trả xe nhưng A lấy lý do đang đi việc ở Hà Nội mấy hôm nữa về sẽ trả. Sau vài ngày vẫn không thấy A quay lại, ngày 21/7/2021, chị B có ra thị xã Y thì tìm gặp được A. Lúc này, A nói cho chị B biết về việc A đã cầm cố chiếc xe và xin khất 10 ngày nữa sẽ lấy xe ra để trả cho chị B. Đồng thời A thanh toán số tiền thuê xe 20.000.000đ. Đến ngày 23/7/2021, do sắp hết thời hạn cầm cố xe, Nguyễn Văn C có liên lạc để giục A quay lại lấy xe và thanh toán tiền lãi cho mình. Tuy nhiên, A cũng lấy lý do bận công việc và hứa quay lại lấy sau. Sau 10 ngày như đã hẹn, chị Lê Thị B liên tục gọi điện và liên lạc với A nhưng A khất hết lần này đến lần khác mà không mang xe về trả. Ngày 29/7/2021, chị B dò theo định vị của xe ô tô BKS: 3xA - xxx.xx tìm đến nhà anh C ở phường X, thị xã Y. Lúc này, cả hai mới biết được hành vi A đã làm giả giấy tờ xe để mang đi cầm cố. Sau đó, anh C và chị B đều liên tục liên lạc và tìm gặp A, tuy nhiên, A không gặp, chỉ nhắn tin và trả lời điện thoại hứa sẽ giải quyết. Do thời gian quá lâu, A không quay lại để trả tiền gốc và lãi cho anh C, cũng không có động thái chuộc chiếc xe để mang xe về trả cho chị B nên ngày 13/10/2021, chị B đã làm đơn tố cáo A đến Công an tỉnh N. Sau đó, anh C cũng làm đơn tố cáo hành vi của A. 

- Ngày 14/11/2021, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã ra quyết định tạm giữ đồ vật là chiếc xe ô tô nhãn hiệu Madza 3 nêu trên và Đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn A do anh C đang quản lý. Quá trình xác minh xác định chủ sở hữu chiếc xe ô tô BKS: 3xA - xxx.xx là chị Lê Thị B. Do đó, Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chị B. 

- Xác minh tại Phòng CSGT Công an tỉnh N: Phòng PC08 không cấp đăng ký xe ô tô BKS: 3xA - xxx.xx cho Nguyễn Văn A ở địa chỉ: Khu phố 2, phường X, thị xã Y, tỉnh N. 

- Tại bản Kết luận giám định số 3337/PC09 ngày 03/7/2021 của Phòng Ký thuật hình sự Công an tỉnh N kết luận nội dung: Đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn A là giả.

- Tại bản Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐG ngày 13/01/2022 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh N kết luận: Giá trị chiếc xe ô tô BKS: 3xA - xxx.xx thời điểm thẩm định giá ngày 13/6/2021 là 520.496.000đ.

II. QUAN ĐIỂM GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

1. Quan điểm thứ nhất:

* Hành vi thuê xe ô tô BKS: 3xA - xxx.xx đến hạn không trả xe:

Nguyễn Văn A thuê xe ô tô BKS: 3xA - xxx.xx của chị B thông qua hợp đồng thuê xe, trong quá trình thuê xe thì A đã đặt cọc lại số tiền 19.000.000đ cho chị B để đảm bảo việc thanh toán tiền thuê xe hoặc hư hỏng của xe ô tô (nếu có). Khi hết thời hạn thuê xe chị B gặp A thì A đã thông báo cho chị B biết việc bản thân đã mang xe đi cầm cố để lấy tiền và xin thời hạn 10 ngày để lấy xe về cho chị B, đồng thời A đã thanh toán số tiền 20.000.000đ thuê xe thời hạn 01 tháng (từ ngày 13/6/2021 - 13/7/2021). Tuy nhiên, hết thời hạn cam kết A đã không lấy xe ô tô trả cho chị B. Tại Cơ quan điều tra, A khai báo mục đích việc thuê xe ô tô để phục vụ việc đi lại, sau khi thuê được xe do có nhu cầu cần tiền làm ăn, tiêu sài cá nhân nên mới nảy sinh ý định mang xe đi cầm cố một thời gian. Như vậy, việc A thuê xe ô tô của chị B nhưng đến hạn không trả xe là quan hệ dân sự thuộc Luật dân sự điều chỉnh. 

* Hành vi cầm cố xe ô tô BKS: 3xA - xxx.xx: 

Sau khi thuê xe ô tô BKS: 3xA - xxx.xx, do cần tiền để kinh doanh và tiêu sài cá nhân nên A nảy sinh ý định đem xe đi cầm cố. Để có thể cầm cố được xe, A đã dùng thủ đoạn gian dối, làm giả đăng ký xe ô tô mang tên mình, tạo lòng tin để anh Nguyễn Văn C tin tưởng cho A cầm cố chiếc xe ô tô BKS: 3xA - xxx.xx lấy số tiền 400.000.000đ. Sau đó, A không trả lại cho anh C số tiền trên. Do đó, hành vi của A đã đủ yếu tố cầu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 174 BLHS năm 2015.

* Hành vi làm giả, sử dụng đăng ký xe ô tô BKS: 3xA - xxx.xx: 

Quá trình điều tra hiện nay chưa xác định được người trực tiếp làm giả đăng ký xe ô tô cho Nguyễn Văn A, mà chỉ xác định được A là người đã nảy sinh ý định và cung cấp thông tin để làm giả đăng ký xe ô tô mang tên mình. Sau đó, sử dụng giấy tờ giả này để thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng (lừa đảo chiếm đoạt số tiền 400.000.000đ của anh C - khoản 3 Điều 174 BLHS năm 2015). Do đó, hành vi của Nguyễn Văn A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” được quy định tại khoản 3 Điều 341 BLHS năm 2015.

2. Quan điểm thứ 2 và cũng là ý kiến của tác giả:

Nguyễn Văn A nhận được chiếc xe ô tô BKS: 3xA - xxx.xx từ chị Lê Thị B một cách hợp pháp (thông qua Hợp đồng thuê xe ngày 13/6/2021) với mục đích để phục vụ nhu cầu đi lại. Nội dung giao kết hợp đồng thuê xe đã nêu rõ: Bên thuê xe không được cho thuê lại hoặc giao xe lại cho người khác sử dụng dưới bất kỳ hình thức nào. Sau một thời gian sử dụng xe, A đã làm giả giấy tờ đăng ký xe và cầm cố cho anh Nguyễn Văn C lấy số tiền 400.000.000đ để sử dụng vào mục đích cá nhân mà không có ý thức chuộc lại xe để trả cho chị B (Thời điểm hết thời hạn cầm cố xe, anh C đã nhiều lần liên lạc, tìm gặp A nhưng A trốn tránh không gặp, chỉ trả lời điện thoại và nhắn tin lại để khất lần. Thực tế đến trước thời điểm Cơ quan CSĐT tiến hành thu giữ chiếc xe ô tô BKS: 3xA - xxx.xx để trả lại cho chủ sở hữu, A đã không quay lại để trả tiền gốc và lãi cho anh C, cũng không có động thái chuộc chiếc xe để mang xe về trả cho chị B). Hành vi của Nguyễn Văn A thể hiện A đã lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là chiếc xe ô tô BKS: 3xA - xxx.xx có giá trị 520.496.000đ của chị Lê Thị B. Việc A cầm cố chiếc xe cho anh C để lấy tiền sử dụng vào mục đích cá nhân là thực hiện hành vi tiêu thụ tài sản chiếm đoạt của chị B. Do đó, Lê Thị B là bị hại trong vụ án này. Đối với anh Nguyễn Văn C, do không hay biết việc A làm giả giấy tờ đăng ký, bị lừa nhận cầm cố chiếc xe ô tô BKS: 3xA - xxx.xx do A thực hiện hành vi phạm tội mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thiệt hại của anh C không phải là thiệt hại trực tiếp do tội phạm gây ra, do đó Nguyễn Văn C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Như vậy, hành vi của Nguyễn Văn A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều 175 BLHS năm 2015 - Thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp tỉnh.

Đối với hành vi làm giả và sử dụng giấy tờ đăng ký giả để thực hiện giao dịch cầm cố xe ô tô BKS: 3xA - xxx.xx lấy số tiền 400.000.000đ của Nguyễn Văn A là hành vi trái pháp luật. Hành vi cầm cố (tiêu thụ) chiếc xe ô tô BKS: 3xA - xxx.xx do bản thân A phạm tội mà có nên không bị coi là tội phạm. Do đó, A phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức” và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” được quy định tại khoản 1 Điều 341 BLHS năm 2015, áp dụng xử lý theo nguyên tắc tội ghép.

Đường lối xử lý vụ án nêu trên còn rất nhiều quan điểm trái chiều, chưa được thống nhất, rất mong nhận được ý kiến góp ý và nhận định của các đồng chí đồng nghiệp trong Ngành./. 

 

<

Tin mới nhất

Một số vướng mắc, bất cập từ thực tiễn trong quá trình giải quyết các vụ án về tội “Thu thập,...(11/03/2026 2:37 CH)

Một số khó khăn, vướng mắc trong xử lý vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội là tài sản...(10/03/2026 11:51 SA)

Trao đổi về việc thu phí thi hành án dân sự đối với quyết định công nhận hòa giải thành tại Tòa án(07/02/2026 10:59 SA)

Khó khăn, vướng mắc trong việc xác định trách nhiệm hình sự đối với bị can bị rối loạn tâm thần...(03/02/2026 8:31 SA)

Bài viết trao đổi nghiệp vụ: Những điều cần lưu ý khi kiểm sát giải quyết vụ án hôn nhân và gia...(03/02/2026 8:25 SA)

Hà Đình H phạm tội “Cố ý gây thương tích”, quy định điểm a khoản 1 Điều 134 BLHS hay tội “sử dụng...(17/01/2026 11:54 SA)

Một số nội dung cần lưu ý khi đề nghị xét tặng Bằng khen thường xuyên của Viện trưởng VKSND tối...(28/11/2025 6:29 CH)

Vướng mắc, bất cập trong việc kiểm sát về nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí; nghĩa vụ chịu...(28/11/2025 6:21 CH)

Đánh giá của bạn về cổng thông tin điện tử
329 người đã bình chọn
°
2785 người đang online