Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, các hoạt động giao dịch điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng trở nên phổ biến và đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, đi cùng với sự phát triển đó đã kéo theo sự gia tăng các loại tội phạm công nghệ với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, có xu hướng xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông, lĩnh vực tài chính - ngân hàng; xâm phạm những quy định của Nhà nước về bảo vệ quyền sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức và cá nhân, an toàn mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số, bảo vệ quyền riêng tư và dữ liệu cá nhân, trong đó nổi lên là loại tội phạm liên quan tới hành vi “Thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng”.

Để đáp ứng yêu cầu cấp thiết về bảo mật thông tin số hoá của công dân và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm, sự ra đời của Bộ luật Hình sự năm 2015 với những quy định cụ thể về xử phạt đối với các loại hành vi trên là một bước đi tất yếu (Bộ luật Hình sự năm 1999 chưa quy định về loại tội phạm này). Sự bổ sung này không chỉ đánh dấu sự chuyển mình quan trọng trong tư duy lập pháp nhằm thích ứng với xu thế thời đại, mà còn kiến tạo nên một hành lang pháp lý vững chắc, đảm bảo tính an toàn và bảo mật tối đa cho sự vận hành của hệ thống ngân hàng.
Tuỳ theo mức độ vi phạm của hành vi mà người thực hiện có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tại khoản 1 Điều 291 Bộ luật Hình sự 2015 quy định: “Người nào thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác với số lượng từ 20 tài khoản đến dưới 50 tài khoản hoặc thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm”.
Quy định trên cho thấy nhà làm luật đã xây dựng cấu thành tội phạm vật chất với sự mô tả chi tiết chuỗi hành vi khách quan đa dạng. Các hành vi “thu thập”, “tàng trữ”, “trao đổi”, “mua bán”, “công khai hóa” được mô tả theo phương pháp liệt kê luân phiên. Điều này có nghĩa người phạm tội chỉ cần thực hiện một trong các hành vi nêu trên, thỏa mãn dấu hiệu định lượng (về số lượng tài khoản hoặc số tiền thu lợi bất chính) thì đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm mà không bắt buộc phải thực hiện tất cả các hành vi khách quan.
Về mặt chế tài, khung hình phạt tại khoản 1 của điều luật mang tính chất răn đe và phòng ngừa là chủ yếu, với mức phạt tiền từ 20 đến 100 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm. Có thể thấy, đối với nhóm tội phạm này hình phạt tiền được ưu tiên áp dụng như một biện pháp răn đe, cảnh cáo đối với người phạm tội.
Một số vướng mắc, bất cập
Thứ nhất, một trong những vướng mắc lớn hiện nay trong quá trình xử lý tội phạm này là hệ thống pháp luật còn thiếu đồng bộ, chưa đầy đủ.
Hiện nay, việc định tội danh chủ yếu dựa vào Điều 291 Bộ luật Hình sự năm 2015, chưa có văn bản dưới luật hoặc hướng dẫn cụ thể nào của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hay Bộ Công an về áp dụng điều luật này. Đặc biệt, khái niệm “Tài khoản ngân hàng” - là đối tượng tác động trực tiếp của hành vi phạm tội lại chưa có văn bản hướng dẫn, giải thích rõ ràng. Điều này dẫn đến lúng túng trong thực tiễn khi xác định thông tin nào được coi là “Thông tin về tài khoản ngân hàng” thuộc phạm vi bảo vệ của điều luật, đặc biệt trong bối cảnh có nhiều loại tài khoản như tài khoản thanh toán, tài khoản ví điện tử, tài khoản định danh qua số điện thoại, tài khoản mở hộ…
Chưa quy định rõ khái niệm “Thông tin về tài khoản ngân hàng” đó là tập hợp về thông tin trên thẻ của khách hàng hay bao gồm tất cả các thông tin về số dư tài khoản, thông tin liên quan đến giao dịch rút tiền, chuyển tiền, nhận tiền của khách hàng. Nếu đối tượng chỉ bán danh sách số thẻ mà không có mật khẩu, liệu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo Điều 291 Bộ luật Hình sự. Điều này gây khó khăn trong quá trình nhận thức, áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng trong xác định đúng hành vi phạm tội, từ đó có cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự.
Thứ hai, thiếu thống nhất trong cách thức xử lý và chế tài xử phạt.
- Thiếu thống nhất trong cách thức xử lý: Theo quy định về các hành vi bị cấm trong sử dụng tài khoản ngân hàng và quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi: mua, bán, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn tài khoản thanh toán… thì không giới hạn việc mua, bán, thuê, cho thuê tài khoản ngân hàng “là của ai”. Có nghĩa là kể cả việc giao dịch đối với tài khoản ngân hàng “của mình” thì cũng vẫn bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Tuy nhiên, quy định về dấu hiệu pháp lý bắt buộc của tội phạm quy định tại Điều 291 Bộ luật Hình sự năm 2015 lại chỉ giới hạn phải là thông tin về tài khoản ngân hàng “của người khác” mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Vấn đề này tạo ra sự không lỗ hổng pháp lý và có sự “vênh” trong quy định xử lý đối với hành vi này trên thực tiễn.
Ví dụ: A mở được 20 tài khoản của 05 ngân hàng khác nhau, do không sử dụng hết và thấy có B là người hỏi mua thông tin về tài khoản ngân hàng nên A đã bán cho B 20 tài khoản ngân hàng trên của mình lấy 20.000.000 đồng. Theo quy định tại Nghị định 88/2019/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 143/2021/NĐ-CP và Nghị định 340/2025/NĐ-CP thì hành vi của A bị xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 291 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì hành vi của A không bị xử lý trách nhiệm hình sự (do mua bán thông tin về tài khoản ngân hàng “của mình”).
- Thiếu thống nhất trong chế tài xử phạt: Theo quy định tại khoản 1 Điều 291 Bộ luật Hình sự 2015, người nào thực hiện hành vi trái phép đối với từ 20 tài khoản trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 20 triệu đồng trở lên thì có thể bị phạt tiền từ 20 đến 100 triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến 03 năm. Tuy nhiên, theo khoản 5, 6 và 10 Điều 26 Nghị định 88/2019/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 143/2021/NĐ-CP), hành vi mua bán thông tin về tài khoản thanh toán từ 01 đến dưới 10 tài khoản bị xử phạt hành chính từ 40 đến 50 triệu đồng; từ 10 tài khoản trở lên thì phạt từ 50 đến 100 triệu đồng. Đặc biệt, vừa qua ngày 25/12/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 340/2025/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 09/02/2026) thay thế Nghị định 88/2019 và Nghị định 43/2021, theo đó tại điểm a khoản 5 và điểm b khoản 6 Điều 30 Nghị định 340, mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này đã được nâng lên tương ứng từ 100 đến 150 triệu đồng và 150 đến 200 triệu đồng (gấp từ 2-3 lần so với quy định cũ).
Tức là cùng một hành vi, nhưng mức xử phạt vi phạm hành chính về tiền lại cao hơn nhiều so với mức phạt tiền của chế tài hình sự. Điều này tạo ra nghịch lý pháp lý, không những làm suy yếu nguyên tắc hình sự là biện pháp xử lý nghiêm khắc nhất, mà còn gây lúng túng cho cơ quan tiến hành tố tụng trong việc lựa chọn hướng xử lý phù hợp. Mặt khác, điều này có thể tạo kẽ hở pháp lý, dẫn đến việc người phạm tội cố tình “né” trách nhiệm hình sự bằng cách viện dẫn chế tài hành chính “có vẻ” nặng hơn để giảm tính nghiêm trọng của hành vi.
- Thứ ba, việc xác định tư cách người tham gia tố tụng còn nhiều quan điểm chưa thống nhất. Có vụ án cơ quan tố tụng xác định Ngân hàng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, còn các chủ sở hữu về tài khoản ngân hàng là người làm chứng. Tuy nhiên, có vụ án lại xác định các chủ sở hữu về tài khoản ngân hàng là bị hại hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, còn Ngân hàng là người làm chứng. Điều này gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các bên liên quan, thậm trí là bỏ lọt tội phạm nếu như xác định tư cách người tham gia tố tụng không rõ ràng, đặc biệt là các chủ sở hữu tài khoản.
- Thứ tư, việc xác định số tiền thu lợi bất chính từ hoạt động thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng có ý nghĩa để xác định điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng để xác định được số tiền thu lợi này lại đang gặp khó khăn và chưa có sự thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng. Trong khi đó, pháp luật hiện hành chưa có văn bản nào quy định cụ thể về việc xác định số tiền thu lợi bất chính. Ở một số vụ án, khi làm rõ về số tiền các đối tượng thu lợi bất chính trong hành vi “mua, bán”, cơ quan tố tụng đã áp dụng “nguyên tắc có lợi cho bị can”, xác định số tiền thu lợi bất chính là số tiền nhận được khi trừ đi số tiền bỏ ra mua và các chí phí có liên quan.
Một số kiến nghị, đề xuất
Liên ngành Tư pháp Trung ương cần sớm ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng Điều 291 Bộ luật Hình sự, trong đó cần làm rõ các thuật ngữ then chốt như “tài khoản ngân hàng”, “thông tin về tài khoản ngân hàng”, “hành vi thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa”, để tạo cơ sở pháp lý thống nhất trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Việc ban hành các văn bản hướng dẫn dưới hình thức thông tư liên tịch, công văn giải đáp nghiệp vụ hoặc tài liệu nghiệp vụ chuyên ngành là hết sức cần thiết, góp phần tháo gỡ lúng túng trong đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, từ đó giúp các cơ quan tiến hành tố tụng xác định đúng tội danh, tránh bỏ lọt hoặc xử lý sai bản chất vụ án. Đồng thời, đây cũng là căn cứ quan trọng để phân biệt rõ ràng giữa hành vi vi phạm pháp luật hành chính và hành vi vi phạm pháp luật hình sự, bảo đảm sự nghiêm minh và thống nhất trong hoạt động tố tụng.
Cần thiết phải rà soát, sửa đổi đồng bộ giữa Bộ luật Hình sự và các văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt hành chính nhằm đảm bảo tính thống nhất, hợp lý trong chính sách hình sự - hành chính đối với Điều 291 Bộ luật Hình sự theo hướng:
+ Bỏ thuật ngữ “của người khác” trong nội dung quy định của Điều 291 Bộ luật Hình sự;
+ Điều chỉnh mức phạt tiền trong xử lý hình sự phù hợp hơn, bảo đảm tính răn đe của pháp luật hình sự so với mức xử phạt hành chính tại Nghị định 88/2019/NĐ-CP, Nghị định 143/2021/NĐ-CP và Nghị định 340/2025/NĐ-CP, đảm bảo việc xử lý hình sự phù hợp, đồng bộ với quy định trong lĩnh vực hành chính và tránh tình trạng xử phạt hành chính nặng hơn cả hình sự, làm lệch chuẩn mực pháp lý và gây khó khăn trong thực tiễn áp dụng.
Trên đây là nội dung nghiên cứu - trao đổi của tác giả về một số vướng mắc, bất cập từ thực tiễn đấu tranh, xử lý loại tội phạm liên quan tới hành vi “Thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng”, mong nhận được sự trao đổi, đóng góp ý kiến của quý đồng nghiệp và với những kiến nghị, đề xuất nêu trên đề nghị liên ngành tố tụng cấp trên nghiên cứu, tiếp thu và đề xuất cấp có thẩm quyền sớm ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật thống nhất trong việc xử lý hình đối với hành vi trên, nhằm tăng cường hơn nữa hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh, xử lý loại tội phạm này trên thực tiễn./.